Danh nhân lịch sử - văn hóa (phan 3)

Lượt xem: 739 - Trả lời: 0 - Mã topic: 34568
Tin đã khóa
  #1
nhadatvinh   Nam 09/02/10, 00:01
nhadatvinh
37CV-686868

Tham gia: 27/05/09
Bài gửi: 3.612
Được thích 804 lần
Lê Văn Huân (1876-1929). Hiệu là Lâm Ngu, quê làng Trung Lễ, huyện Đức Thọ. Mồ côi cha từ nhỏ, theo học chữ Hán và đậu giải nguyên khoa thi hương Bính Ngọ(1906) thường gọi là Giải Huân. Năm 1907 tham gia mở Triều Dương thương điếm ở Vinh, bán hàng nội địa, là địa chỉ liên lạc của hội Duy Tân, các phong trào yêu nước. Năm 1808, bị bắt đi đày Côn Đảo. Năm 1917, tự do, trở về quê và tiếp tục hoạt động. Năm 1925 cùng tham gia sáng lập hội Phục Việt ( tại Vinh) sau cải tổ là Tân Việt). Năm 1929, bị pháp bắt, lần lượt bị giam ở Vinh, Hà Tĩnh, bị tra tấn cực hình, tuyệt thực cho đến chết trong nhà lao Hà Tĩnh.

Nguyễn Hằng Chi (1884-1908). Quê ở làng Ích Hậu, nay thuộc xã Ích Hậu, huyện Can Lộc. Xuất thân từ một gia đình Nho học yêu nước, nên từ sớm tham gia vào các hoạt động xã hội truyền bá tư tưởng dân chủ, đọc sách báo mới, liên lạc với các sỹ phu trong phong trào Duy Tân. Khi khởi phát phong trào chống thuế của nhân dân Quảng Nam, chính ông đã gủi tờ thông tri đến các huyện gọi dân chúng hưởng ứng và phong trào lại nổi lên ở Hà Tĩnh, tự thân ông dẫn đầu đoàn biểu tình kéo tận vào thị xã Hà Tĩnh chất ván viên tuần phủ, đòi chính quyền giảm sưu thuế cho dân. Ông bị kẻ địch bắt và kết án tử hình.

Võ Liêm Sơn ( 1888-1949). Hiệu là Ngọc Am, quê ở Thiên Lộc, nay thuộc xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc. Học ở Trường Quốc học Huế đỗ Thành Chung, năm 1912 lại đỗ cử nhân Hán học ở trường thi Bình Định, được bổ tri huyện Duy Xuyên ( Quảng Nam), sau bị huyền chức, dạy học ở Phan Thiết, ở Quốc học Huế, cuối những năm 1920 tham gia đảng Tân Việt. Năm 1927, vì viết cuốn Hài Văn nên bị thực dân Pháp cách chức và quản chế. Năm 1934, sáng lập ra Tân Văn Việt Nghệ tùng thư, bị thực dân khám nhà và bắt giam. Năm 1944, tham gia hoạt động Việt Minh giành chính quyền ở Phan Rang. Năm 1947 làm Chủ tịch mặt trận Liên Việt Hà Tĩnh, rồi uỷ viên UB Kháng chiến Hành chính Liên Khu IV, Chủ tịch mặt trận Liên Việt khu IV. Năm 1948, ra Việt Bắc tham dự Hội nghị văn hoá toàn quốc, được gặp Hồ Chủ Tịch và được Người tặng thơ. Về đến nhà, ông bị đau nặng và mất năm 1949. Ông sáng tác thơ văn và chuyên luận như: Hài Văn, Bức thư gửi chị Liên Tâm, Cò Lâu Mộng ( Tiểu Thuyết).... Thơ ông có nhiều, đến năm 1957 mới in thành tập Ngắm Non Hồng. Thơ văn Võ Liêm Sơn (1993).

Lê Thước (1900-1975). Quê làng Lạc Thiện (tức Trung Lễ), nay thuộc xã Trung Lễ, huyện Đức Thọ. Đỗ giải nguyên khoa thi hương Mậu Ngọ (1918) trường Nghệ An, năm 1921 tốt nghiệp trường Cao Đẳng Sư phạm Hà Nội, được bổ làm Giáo sư trường Quốc học Vinh ( Nghệ An ) về các môn Pháp văn, Việt văn và Lịch sử. Từ năm 1945 tham gia cuộc khởi nghĩa kiến quốc, là: Uỷ viên Trung uơng Mặt trận Liên Việt, làm việc ở ban Tu thư bộ Giáo dục và ở Vụ Bảo tồn Bảo tàng Bộ Văn hoá. Trong cuộc đời dạy học, nghiên cứu văn hoá dân tộc, ông đã biên soạn thơ văn Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Thượng Hiền, Trần Tế Xương và nhiều tài liệu lịch sử dân tộc.

Nguyễn Phan Chánh (1892-1984). Hiệu là Hồng Nam. Quê xã Trung Tiết, nay thuộc phường Tân Giang thị xã Hà Tĩnh. Tốt nghiệp trường sư phạm Huế, dạy học ở trường Tiểu học Đông Ba, năm 1925 vào học khoá I, trường Cao đẳng Mỹ Thuật Đông Dương tại Hà Nội. Năm 1928, đoạt giải thi vẽ tem ở Hà Nội. Năm 1931, tham gia triển lãm tranh ở Pa Ri, với bức tranh lụa Chơi ô ăn quan được dư luận Pháp ca ngợi. Sau khi ra trường, về quê vẽ truyền thần ( hiện nay rất nhiều vùng ở Thạch Hà và Cẩm Xuyên đã giữ được nhiều chân dung do ông vẽ). Sau năm 1945, tham gia hoạt động trong hội Văn hoá Cứu quốc ở Hà Tĩnh, là Uỷ viên Ban chấp hành, tích cực vẽ tranh phản ánh đời sống sản xuất của công nông phục vụ kháng chiến. Sau năm 1954, dạy tại trường Cao đẳng Mỹ Thuật Hà Nội, là uỷ viên Ban chấp hành hội Mỹ Thuật Việt Nam, đại biểu Quốc hội khoá III ( 1960- 1964). Đóng góp của ông là tranh lụa, nhiều cuộc triển lãm tranh lụa của ông được tổ chức trong nước và ngoài nước. Được tặng thưởng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1995.

Hoàng Ngọc Phách: ( 1896- 1973). Hiệu là Song An, quê làng Đông Thái, xã Yên Hạ, nay thuộc xã Tùng ảnh huyện Đức Thọ. Năm 1919 học Cao đẳng sư phạm Hà Nội, năm 1922 tốt nghiệp được bổ làm giáo sư dạy văn và lần lượt dạy ở các trường Nam Định, Hải Phòng, Lạng Sơn, Bắc ninh, làm hội trưởng hội truyền bá Quốc Ngữ Bắc Ninh. Từ năm 1945 vẫn công việc giảng dạy, làm hiệu trưởng và Giám đốc giáo dục Tỉnh, khu và trường Cao đẳng Trung ương, làm việc ở ban Tu Thư của Bộ Giáo dục, và trước khi nghỉ hưu công tác tại viện văn học . Là người thầy dạy văn học, ông là một nhà văn vào lớp đầu của Việt Nam với tiểu thuyết Tình ái Tố Tâm (1922) mở đầu cho dòng văn học lảng mạn đầu thế kỷ X X. Ông viết cho nhiều tờ báo và tạp chí trước và sau năm 1945 như Nam Phong. Nghiên cứu văn sử địa...Đặc biệt biên soạn nhiều công trình về văn học chữ hán, văn học yêu nước cách mạng (4 tập). Thơ văn Nguyễn Công trứ, Thơ văn Tú Xương, văn thơ Nguyễn Khuyến, thơ văn Phan Châu Trinh

Trần Phú ( 1904 – 1931). Quê ở làng Tùng Ảnh, nay thuộc xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ. Sinh tại huyện Đức Phổ tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1922 đỗ đầu kỳ thi tốt nghiệp Cao Đẳng Tiểu học Huế, được bổ về dạy tại trường Tiểu học Cao Xuân Dục- Vinh( tỉnh Nghệ An). Là một trong những người sáng lập Hội Phục Việt ngày 14/7/1925( sau đổi thành Hưng Nam rồi Tân Việt Cách Mạng Đảng). Năm 1926, đi sang Quảng Châu để bàn việc hợp nhất Tân Việt với Việt Nam TNCMDDCH, gặp Nguyễn Ái Quốc. Năm 1927 sang Mat-skơ-va (liên Xô cũ) học Đại Học Phương Đông. Tháng 4/ 1930 về nước được bổ sung vào Ban chấp hành Trung ương ĐCSVN, khởi thảo luận cương Chính Trị, được thông qua tại Hội nghị Trung ương lần thứ nhất tháng 10/1930. Tại Hội nghị này đồng chí Trần Phú được bầu làm Tổng Bí Thư. Tháng 3/1931 chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ hai. Tháng 4/ 1931, có kẻ phản bội khai báo, bị bắt tại Sài Gòn, bị tra tấn cực hình, rồi ốm nặng buộc địch đưa sang nhà thương Chợ Quán điều trị và mất tại đây. Năm 1998 đã tìm thấy mộ và hài cốt, đưa về an táng tại núi Quần Hội, xã Tùng Ảnh.

Hoàng Xuân Hãn ( 1908- 1966). Quê ở Nhân Thọ ( Kẻ Trổ) xã Đức Nhân, huyện Đức Thọ. Thủa nhỏ học chữ Hán và Quốc ngữ, lần lượt học tại trường tiểu họcVinh, trường Trung học Bưởi ( Hà Nội ), sau chuyển sang học trường An –be- Xa - Rô (ALbert Saraut) và đỗ hai bằng tú tài. Năm 1928, du học tại Pháp, lần lượt học ở Đại học Bách Khoa, rồi Đại học cầu đường với các học vị Cử nhân Toán( 1935), Thạc sỹ Toán( 1936). Trở về nước dạy tại trường Bưởi và giảng dạy Toán ở số 1 trường Đại học ở Hà Nội. Năm 1938 là một trong những người sáng lập Hội truyền bá Quốc Ngữ, giữ chức trưởng ban Tu Thư. Sau cách mạng tháng 8/ 1945 tham gia hoạt động xã hội . Tháng 4/1996 giữ chức tiểu ban chính trị của đoàn Đại biểu nước Việt Nam DCCH trong hội nghị Đà Lạt. Kháng chiến chống pháp bùng nổ, ở lại Hà Nội. Năm 1950, sang Pháp sinh sống, tiếp tục học và đạt bằng kỹ sư nguyên tử (1956). Làm viện trưởng Viện nghiên cứu Hán Nôm của Pháp nhiều năm, hoạt động tích cực trong phong trào Việt Kiều yêu nước. Ông là một nhà khoa học Đa ngành và ở ngành nào cũng có những đóng góp xuất sắc, là tác giả của hàng chục công trình lớn như: Danh từ khoa học (1942), La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp ( 1952), Lý thường Kiệt (1949), Lịch và Lịch Việt Nam (1982).... Được truy tặng Huân Chương Độc Lập hạng Nhì, được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh( đợt 2-2000)

Nguyễn Khắc Viện (1913-1997) Quê ở xã Sơn Hoà, huyện Hương Sơn. Xuất thân trong một gia đình khoa bảng, thân phụ là Tiến sỹ Nguyễn Khắc Niêm. Lớn lên du học ở Pháp, tốt nghiệp Bác sỹ Y khoa và Cử nhân Văn chương ở Pa Ri. Tham gia ĐCS Pháp và là Chủ tịch hội Việt kiều yêu nước ở Pháp. Cuối năm 1959, trở về nước, hoạt động trong ngành xuất bản, làm Giám đốc nhà xuất bản Ngoại Văn ( nay là Nhà xuất bản Thế Giới), Tổng Biên tập Tạp chí “ Nghiên cứu Việt Nam” bằng tiếng Anh và Pháp. Ông tinh thông nhiều lĩnh vực, từ y học, văn học, sử học, văn hoá, Tâm lý, dưỡng sinh cho đến giáo dục và có nhiều công trình nghiên cứu khoa học như bộ sách: Tìm hiểu trẻ em( 5 tập), Lịch sử Việt Nam bằng Pháp ngữ, ông còn dịch Truyện Kiều của Nguyễn Du sang tiếng Pháp.

Nguyễn Đổng Chi ( 1915-1984). Quê làng Ích Hậu, nay thuộc xã Ích Hậu, huyện Can Lộc. Từ nhỏ học chữ Hán , Quốc ngữ đến hết bậc trung học. Từ giữa những năm 30, viết cho các báo: Bạn trẻ, Thanh Nghệ Tĩnh Tân văn, Tiểu Thuyết thứ hai và viết truyện. Tham gia hoạt động Việt Minh năm 1943 và tham gia giành chính quyền ở huyện năm 1945, sau đó phụ trách hội Văn hoá Cứu quốc Nghệ An. Năm 1946 ra Hà Nội tham gia tự vệ kháng chiến. Năm 1947, về khu IV hoạt động. Năm 1950, làm Giám đốc nhà Xuất bản Dân Chủ Mới. Năm 1952, chuyển sang dạy học. Từ năm 1954 trở đi lần lượt công tác ở: Ban nghiên cứu Văn Sử Địa, Viện Sử học, năm 1978 làm Viện trưởng Viện nghiên cứu Hán Nôm, năm 1981 công tác tại Viện văn hoá dân gian cho đến khi mất. Hoạt động chủ yếu là trước tác, ngoài một số sách văn học như: Túp lều nát, Phạm Hồng Thái, Gặp lại một người bạn nhỏ...thì hàng chục công trình của ông là nghiên cứu văn hoá, lịch sử, sưu tầm văn hoá dân gian trong đó có bộ sách Kho Tàng chuyện Cổ tích Việt Nam gồm 5 tập là tiêu biểu. Được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I ( 1995)

Xuân Diệu ( 1916-1985) Tên thật là Ngô Xuân Diệu, quê ở xã Trảo Nha( Đại Lộc), huyện Can Lộc, sinh ra tại quê mẹ xã Tùng Giang, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Lớn lên ở Trường trung học Bảo Hộ ở Hà Nội với bằng tú tài bán phần, và học trường trung học Khải Định ở Huế với bằng tú tài toàn phần. Năm 1938, dạy học ở trường tư Thăng Long Hà Nội. Năm 1940, làm ở sở Đoan Mỹ Tho, năm 1943, bỏ nghề ra Hà Nội sống với Huy Cận, rồi tham gia hoạt động Việt Minh. Năm 1946, là đại biểu Quốc hội khoá I (1946- 1960) và tích cực hoạt động trong các cơ quan văn hoá văn nghệ như ở Đài Tiếng nói Việt Nam, Hội Văn nghệ Việt Nam, Báo Văn Nghệ, là uỷ viên BCH Hội Nhà văn Việt Nam nhiều khoá. Năm 1983, được bầu làm Viện sỹ Thông tấn Viện Hàn lâm Nghệ thuật nước CHDC Đức (Đông Đức cũ). Hoạt động và lao động chính là văn thơ, đã in tập Thơ Thơ từ năm 1938. Là người tiêu biểu cho phong trào Thơ Mới trước 1945, công bố nhiều truyện ký. Một đóng góp lớn nữa là viết gần 20 tập sách tiểu luận phê bình văn học nước nhà với những đại diện tiêu biểu cho văn học các thời đại. Đồng thời còn là một dịch giả thơ tài ba, dịch sang tiếng Việt thơ của một số nhà thơ lớn của thế giới như: Tago, Mai- a -cốp -xki... Được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I.

Lê Văn Thiêm (1918- 1991) Quê xã Trung Lễ, huyện Đức Thọ. Thủa nhỏ thông minh, lớn lên thi đỗ vào trường Cao Đẳng Sư Phạm Paris (Escole Normale Suppes rieue de Paris) nổi tiếng ở Pháp và nhận học vị Tiến sỹ Toán học năm 1948, sau đó là giáo viên toán ở Đại học Zuy- rích( Thuỵ Sỹ) năm 1948-1949. Năm 1949, trở về nước, lần lượt giữ các chức vụ: Hiệu trưởng trường Đại học khoa học cơ bản và Sư phạm Cao cấp khu học xá Trung ương (1951- 1954), Giám đốc Trường Đại học khoa học Hà Nội (1954- 1957), Hiệu trường Đại học Tổng hợp (1957-1970), Viện trưởng Viện Toán học ( 1970- 1980), cố vấn Trung tâm Toán học và ứng dụng Tin học thành Phố Hồ Chí Minh (1980- 1989). Ông là đại biểu quốc hội khoá II, III, là Tổng Biên tập đầu tiên của Tạp chí Toán học Việt Nam, Đại biểu toàn quyền của Việt Nam tại Viện nghiên cứu hạt nhân Đúp - Na ( Liên Xô cũ ) từ năm 1956-1980. Đóng góp chủ yếu của ông là hàng chục công trình toán học cao cấp, trong đó có 2 chuyên khảo : Một số vấn đề toán học trong lý thuyết đàn hồi ( 1970) và Một số vấn đề toán học chất lỏng nhớt ( 1970). Được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I năm 1995.
Tin đã khóa
Công cụ bài viết

 
chovinh.com toolbar
Các từ khóa tìm kiếm: rao vat nghe an, rao vat ha tinh, sim so dep tp vinh, nha dat tp vinh, nha dat nghe an, tuyen dung tp vinh, tuyen dung nhan vien o vinh, viec lam tai thanh pho vinh...